Tác giả: Nguyễn Khoa Diệu Hà
“Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền…”
(“Đây thôn Vỹ Dạ” – Hàn Mặc Tử)
“Thôn Vỹ” mà nhà thơ Hàn Mặc Tử nhắc đến đó chính là thôn Vỹ Dạ ở thành phố Huế. Người ta nói Vỹ Dạ được nhiều người biết đến nhờ bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mặc Tử cùng giai thoại về mối tình với người con gái đẹp Vỹ Dạ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Hoàng Thị Kim Cúc, cô giáo dạy nữ công gia chánh trường Nữ sinh Đồng Khánh. Nhưng thật ra, từ trước đó hàng trăm năm, Vỹ Dạ đã là vùng đất nổi tiếng của Huế.
Được thành lập năm 1471 dưới thời vua Lê Thánh Tông, Vỹ Dạ là một làng cổ có vị trí đặc biệt, ba mặt đều giáp sông: sông Hương ở phía Bắc, sông Thọ Lộc ở phía Tây và sông đào Lại Thế ở phía Đông. Mỗi năm mùa lụt về để lại những bãi bồi ven sông phù sa màu mỡ, lau lách mọc dày nên từ thuở xưa làng có tên là Vỹ Dã (nghĩa là cánh đồng lau sậy). Theo cách phát âm của người Huế, Vỹ Dã thành Vỹ Dạ. Lâu dần Vỹ Dạ trở thành tên gọi chính thức của làng.
Khi vua Gia Long thống nhất đất nước, chọn xây dựng kinh thành ở vị trí ngày nay thì Vỹ Dạ trở thành vùng phụ cận. Vì thế, cùng với Kim Long, Gia Hội, Vỹ Dạ là vùng đất được các ông hoàng, bà chúa và các quan triều Nguyễn chọn lập phủ đệ, xây biệt thự. Những ngôi nhà rường với kiến trúc cung đình đã đưa Vỹ Dạ trở thành miền phủ đệ nổi tiếng của Huế. Và hơn thế nữa, đó là một Huế rất sâu, một Huế của thi ca nghệ thuật, của nhân tình. Trên nền đất đai, vườn tược ấy, tiếng thơ của những ông hoàng, văn nhân thi sĩ vang lên, nặng lòng thương người nghèo khó đã làm cho Vỹ Dạ không chỉ là vùng đất đẹp về cảnh quan mà còn là vùng đất sâu lắng tình người. Cái hồn hoàng gia mà dân dã ấy cứ trầm lắng cùng mưa nắng Huế.
Năm 1907, khi đường Thuận An (nay là đường Nguyễn Sinh Cung) được xây đắp và tráng nhựa thì con đường trở thành trục “xương sống” của Vỹ Dạ. Từ Đập Đá xuôi về chừng hơn 2 km, điểm cuối của Vỹ Dạ tiếp giáp với Tây Thượng – là làng tôi.
Nhà tôi ở gần Bến Cạn, bến đò làm địa giới phân chia Vỹ Dạ và Tây Thượng. Vì trường học ở Vỹ Dạ gần nhà hơn nên cả quãng đời niên thiếu tôi đi học tại trường Vỹ Dạ, mà người dân Huế còn gọi là trường Thế Dạ. Tôi đi hoài trên con đường Thuận An quen thuộc, những ngôi nhà vườn xanh Vỹ Dạ cũng “đi” vào lòng tôi. Đó là những phủ đệ lùi sâu vào trung tâm khu vườn, ẩn mình giữa một thế giới thiên nhiên thơm mát suốt bốn mùa, hoàng mai, hải đường, hoa mộc, hoa cau, vải lệ chi, nhãn, măng cụt. Chiếc cổng phủ kiểu thức cung đình đứng trầm mặc giữa lối đi vào nhà với hai hàng chè tàu cắt tỉa gọn gàng, màu thời gian in trên cổng phủ gợi một thời xa xưa quý phái, uy nghiêm.
Vỹ Dạ là miền phủ đệ của các ông hoàng triều Nguyễn như Kiến An Vương Nguyễn Phúc Đài, Thiệu Hóa quận vương Nguyễn Phúc Chẩn, Tuy Quốc Công Nguyễn Phúc Miên Trinh, Diên Khánh Vương Nguyễn Phúc Tấn… Nổi bật nhất trong đó là phủ của Tuy Lý Vương Miên Trinh, hoàng tử thứ 11 của vua Minh Mạng, người nổi tiếng thông minh và thơ hay. Phủ của ngài Tuy Lý Vương (dân gian thường gọi phủ Ba cửa) được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Phủ ngày nay còn gần như nguyên vẹn và là nơi cất giữ kho tàng hàng trăm mộc bản thơ văn của ngài, cũng chính là cất giữ đến muôn đời tấm lòng của một ông hoàng thương dân:
“…Mạ cấy dưới đồng trũng,
Nước chuyền lên ruộng cao.
Suốt ngày gian khổ thế,
Già cả nhọc làm sao…”
(“Nói về nhà nông” – Tuy Lý Vương)
Cùng với phủ đệ hoàng gia, Vỹ Dạ còn gắn liền với họ Nguyễn Khoa, một dòng họ nổi tiếng về khoa bảng ở Huế. Ở đây còn ngôi nhà rường cổ của cụ Nguyễn Khoa Đạm – Tham tri Bộ Học, Thượng thư trí sự thời vua Thành Thái và em trai là Nguyễn Khoa Tân – Thượng thư Bộ Hộ, Đông Các Điện Đại Học Sĩ thời vua Duy Tân; biệt thự Mai Trang của cụ Nguyễn Khoa Toàn – người vẽ mẫu tượng đồng Đức Phật hiện thờ ở chùa Từ Đàm.
Vỹ Dạ còn có Cồn Hến đóng vai trò “tả thanh long” trong phong thủy của kinh thành Huế. Ốc đảo xanh ấy gắn liền với cuộc đời của những người lao động chăm chỉ làm lụng: nghề cào hến, nghề làm kẹo gừng, nghề trồng bắp, là nơi phát xuất những đặc sản Huế mang tên Cồn Hến nổi tiếng cơm hến, bắp cồn, chè bắp.
Thăm Vỹ Dạ bằng bước chân của du khách lãng du, tôi tin bạn sẽ dễ dàng gặp được ngôi nhà vườn xanh um cây lá của gia đình họa sĩ Bửu Chỉ. Nơi ấy những bức tranh bút sắc và mực đen về đề tài chiến tranh và hòa bình của Bửu Chỉ kết hợp với những ca khúc phản chiến của người bạn thân Trịnh Công Sơn đã đem Huế – Vỹ Dạ đến với thế giới.
Vỹ Dạ bây giờ đã có nhiều đổi thay nhưng hương xưa vẫn còn đó, tìm là sẽ gặp. Mùa xuân này, mời bạn hãy về Vỹ Dạ để nghe gió trêu đùa trên áo mới nàng thiếu nữ, để nghe “trên giàn thiên lý bóng xuân sang”./.
