Bài và ảnh: UÔNG THÁI BIỂU
Giữa plei (làng) Diom A ở xã D’Ran (Lâm Đồng), trong sân ngôi nhà tổ của dòng họ Touneh, một dòng họ nổi tiếng có ông Touneh Hàn Đăng-vị quan Huyện Thượng và bác sĩ Touneh Prông Hiu nổi tiếng hồi đầu thế kỷ trước, cây nêu đã dựng, củi lửa đã chuẩn bị, những chóe rượu cần đã được trải dài. Người Chu Ru đón mừng năm mới bắt đầu bằng lễ Hamamơkhi, lễ tưởng nhớ tổ tiên và đoàn tụ họ hàng…
Già làng, các nghệ nhân dân gian cùng bà con trong buôn, trong họ đã có mặt đông đủ. Lời khấn của già làng cũng đã thấu tận Yàng. Những chóe rượu cần thơm nức hương núi rừng cũng mở ra. Những món ăn truyền thống như xôi ống, thịt quay, cá lóc nước, canh da trâu nấu với cà đắng, rau rừng đã dọn. Ngày đầu năm mới rạo rực buôn làng bởi âm thanh của tiếng trống sơgơl trong nhịp tay điêu luyện của nghệ nhân Ma Cong, tiếng chiêng ba dìu dặt của nghệ nhân Ma Bio, tiếng sáo tenia réo rắt của nghệ nhân Ya Has, tiếng kèn kwào thao thiết của già làng Ya Thin. Những chàng trai cô gái Chu Ru như quấn quyện vào nhau bởi nhịp điệu bàn chân, uốn lượn bàn tay khi vũ điệu tămya-ariya quay tròn bên bếp lửa, quay tròn mãi mãi theo dòng mẫu hệ. Về plei Chu Ru trong những ngày đón mừng năm mới, cùng vui lễ Hamamơkhi với đồng bào quả thật vô cùng thú vị…

Một cán bộ văn hóa địa phương, nói rằng: “Bên cạnh những lễ hội truyền thống, đồng bào Chu Ru ở D’Ran ăn Tết Dương lịch rồi đến Nguyên Đán chung với đồng bào Kinh từ nhiều năm rồi. Tết nào chúng tôi cũng tổ chức hội Xuân chung cả cộng đồng và tổ chức tặng quà, chúc Tết nhiều gia đình đồng bào sản xuất giỏi, gương mẫu và các vị già làng, nhân sỹ, trí thức…”
Trong những ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền năm trước, chúng tôi đã về phường Lang Bian – Đà Lạt (Lâm Đồng) ăn Tết với đồng bào. Đây là vùng đất đẹp tươi dưới chân núi Lang Bian, nơi tụ cư của đồng bào Cơ Ho dòng Lạt và dòng Chill. Hòa vào dòng xe cộ ngược xuôi, chúng tôi ghé thăm những ngôi nhà khang trang bên đường. Thật vui khi được chứng kiến không khí rộn ràng trong mỗi gia đình đồng bào dân tộc thiểu số đang cùng chia sẻ với cộng đồng người Kinh niềm vui đón Tết. Nhà nào cũng trang hoàng đẹp đẽ. Cây nêu, rượu cần, hoa cảnh, mứt kẹo, trà thơm đãi khách. Mọi người chúc nhau và chúc chúng tôi những lời thật đẹp. Ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc Việt đã trở thành ngày hội sẻ chia, ngày hội vui, dịp thư giãn, nghỉ ngơi sau những ngày cật lực mưu sinh của toàn thể cộng đồng.

Nhà K’razăn K’Plin ngày Tết ấy thật vui vì được đón rất nhiều khách quý. Người đàn ông núi tài ba vừa viết nhạc, vừa làm thơ, vừa là ông chủ của một sân khấu cồng chiêng và một nhà hàng ẩm thực Cơ Ho nổi tiếng này bắt tay chúng tôi thật chặt và mời vào chiếu rượu. “Uống với nhau một tý cho năm mới may mắn! Tết mà…”, K’Plin nói.
Dưới mái nhà sàn, bên chóe rượu cần và bếp thịt nướng, chúng tôi cảm nhận được không khí gắn kết và đầm ấm. Khách của nhà K’Plin hôm ấy có linh mục chánh xứ giáo phận Langbiang, có mục sư đến từ buôn Bneur C, có già làng của buôn Đăng Ya và rất nhiều những người bà con bên nội, bên ngoại đến từ nhiều vùng. Đặc biệt, gia đình anh được đón những vị khách quý từ phương xa đến. Đêm mồng hai Tết, giữa sân nhà K’Plin là một bếp lửa rực hồng. Quanh bếp lửa ấy là những chàng trai, cô gái Cơ Ho trong sắc màu thổ cẩm khỏe khoắn, tươi trẻ. Rượu cần, lửa, những vũ điệu, những khúc dân ca Tây Nguyên, âm thanh của dàn chiêng quý và cả những bài hát Việt Nam và quốc tế đã làm cho tâm hồn của chủ và khách như rạo rực hơn, hòa vào sinh khí tốt tươi của xứ đại ngàn…
Nhà nghiên cứu văn hóa Đặng Trọng Hộ, cho rằng: “Hoàn cảnh kinh tế-xã hội chuyển biến một bước căn bản theo chiều hướng phát triển đi lên, kéo theo đó là sự biến đổi của một số phong tục, tập quán, tín ngưỡng và lễ hội. Đặc biệt, sự xen cư giữa các sắc tộc đã tạo nên quá trình giao lưu, tiếp biến các yếu tố văn hóa của các dân tộc khác nhau một cách tự nhiên. Khi đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa tổ chức các lễ hội của họ thì người Kinh cũng hòa nhập và chia sẻ.

Chúng tôi cũng chia sẻ quan điểm đó của ông Đặng Trọng Hộ. Ở Tây Nguyên có hàng chục dân tộc anh em hợp cư, sinh sống. Trong đó, riêng các dân tộc bản địa chia làm hai nhóm chính theo ngữ hệ, đó là nhóm Môn-Khơme và nhóm Mã Lai-Đa Đảo. Cùng với họ là những cư dân thiểu số từ phía Bắc mới đến nhập cư sau ngày nước nhà thống nhất thuộc nhóm Thái-Tày như đồng bào Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Dìu, Mông…Các dân tộc như Cơ Ho, Mạ, Chu Ru có quá trình giao thoa văn hóa sâu đậm với người Kinh, trong đó có “văn hóa Tết”. Phân tích thêm, có thể nói rằng, đồng bào các dân tộc thiểu số với hệ thống tín ngưỡng đa thần trong niềm tin với các vị Yàng, họ chỉ tổ chức các nghi lễ chuyển tải các thông điệp thiêng liêng gửi gắm đến thần linh. Với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, “ngày Tết cổ truyền” chính là lễ hội kết thúc chuỗi các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Trong chu trình nghi lễ nông nghiệp của người Cơ Ho thì Nhô Lirvong tức là “uống mừng đậy kín bồ lúa” là dịp lễ kết thúc mùa màng, là cái Tết thực sự của đồng bào. Tương tự, đồng bào Mạ lại gọi nghi lễ kết thúc những ngày đồng áng ấy là Nhô Rhe, tức là “mừng lúa mới”, họ cũng tổ chức Sa rơpu (ăn trâu) và diễn ra trong bảy ngày, bảy đêm. Người Chu Ru thì ăn Tết mừng lúa về nhà với tên gọi là Mơnhum Hơma. Trong văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, Tết cổ truyền của họ chính là những lễ nghi nông nghiệp và những ngày lễ hội cổ truyền mang sắc màu văn hóa tộc người.

Thế nhưng, điều kiện sống, hoàn cảnh kinh tế-xã hội của đồng bào đã có nhiều đổi khác. Từ quá trình xen cư và cộng hưởng văn hóa với người Kinh trong nhiều năm qua, nên hầu hết các dân tộc anh em gốc Tây Nguyên đã biết đón Tết và tổ chức vui Tết. Quá trình cộng cư hòa cảm ấy giúp đồng bào hiểu rằng, cái Tết của người Kinh là một sinh hoạt văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, là dịp để mọi người xích lại gần nhau hơn, hiểu biết, sẻ chia và yêu thương nhau nhiều hơn.
Ngày Tết, họ cũng qua thăm nhà và chúc tụng lẫn nhau, trẻ con được cho quà bánh, được mặc áo mới, được đến các điểm vui chơi cộng đồng. Tết đối với họ là dịp nghỉ ngơi, thư giãn, vui chơi sau một năm mưu sinh cực nhọc. Những yếu tố đó cũng chính là nhu cầu nảy sinh và tồn tại ngay trong lòng cộng đồng các dân tộc thiểu số. Nhu cầu ấy của đồng bào đã được chính cái Tết của người Kinh thỏa mãn…

Có thể nói thêm, cây lúa cùng chuỗi nghi lễ nông nghiệp với những “năm ăn tháng uống” vẫn tồn tại nhưng giờ đây, cây công nghiệp với đặc điểm thời vụ và phương thức canh tác hoàn toàn khác đã phổ biến trong vùng Tây Nguyên. Mùa vụ, thời gian thu hoạch, quá trình lưu chuyển sản phẩm cũng như thu nhập đã khác, cái khác ấy có chung hoàn cảnh với cả cộng đồng. Vì vậy, đồng bào các dân tộc thiểu số cùng chia sẻ niềm vui trong cái Tết Nguyên Đán là điều không mấy khó hiểu. Ngày Tết Nguyên Đán đã là ngày vui chung của cộng đồng. Ngày xuân, mời bạn lên với những người anh em Tây Nguyên, cùng hòa chung không khí đón mừng năm mới với cây nêu trang trí rực rỡ, với bếp lửa đêm rừng rạo rực cùng tiếng cồng tiếng chiêng rộn rã và hòa vào vòng xoang quấn quyện tình thân…
